Nghị quyết số 10-NQ/TW và vai trò của VietinBank trong đồng hành cùng dòng vốn chất lượng cao, kiến tạo động lực phát triển mới
Nghị quyết số 10-NQ/TW và vai trò của VietinBank trong đồng hành cùng dòng vốn chất lượng cao, kiến tạo động lực phát triển mới
Quán triệt tinh thần đó, Đảng bộ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) xác định việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần được cụ thể hóa bằng chương trình hành động cụ thể, thiết thực; qua đó phát huy vai trò của ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực trong dẫn vốn, kết nối nguồn lực, đồng hành cùng doanh nghiệp và nhà đầu tư, đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Bước chuyển trong tư duy của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Nếu trước đây trọng tâm thường được đặt vào khả năng thu hút vốn, thì trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định vấn đề cốt lõi là lựa chọn, tổ chức, quản trị và chuyển hóa dòng vốn FDI thành năng lực phát triển của nền kinh tế. Bước chuyển này thể hiện tập trung ở bốn điểm nổi bật:
Thứ nhất, chuyển từ coi trọng số lượng sang lựa chọn FDI theo chất lượng, hiệu quả và giá trị mang lại cho nền kinh tế. Nghị quyết xác định chất lượng, hiệu quả, trình độ công nghệ, khả năng chuyển giao công nghệ, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng tạo ra trong nước là những tiêu chí quan trọng để lựa chọn và đánh giá đầu tư nước ngoài. Theo đó, dòng vốn được ưu tiên phải phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra những năng lực sản xuất, công nghệ mới.
Thứ hai, chuyển từ thu hút từng dự án riêng lẻ sang phát triển cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đầu tư. Một điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 10-NQ/TW là chuyển từ cách tiếp cận thu hút đầu tư chủ yếu theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận mới đặt dự án FDI trong tổng thể một chuỗi từ hạ tầng, logistics, năng lượng, tài chính, công nghiệp hỗ trợ, nhà cung ứng đến nghiên cứu - phát triển, đổi mới sáng tạo và thị trường đầu ra. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ thu hút những “điểm” đầu tư riêng lẻ sang hình thành những mạng lưới sản xuất và hệ sinh thái giá trị có sức cạnh tranh quốc tế.
Thứ ba, chuyển từ sử dụng FDI như nguồn lực bổ sung sang coi FDI là động lực để phát triển doanh nghiệp Việt Nam và tăng cường nội lực quốc gia. Nghị quyết yêu cầu gắn phát triển khu vực FDI với nhiệm vụ xây dựng và phát triển các nhà cung ứng trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính và khả năng tham gia chuỗi giá trị của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mối quan hệ giữa FDI và khu vực kinh tế trong nước, theo đó, phải chuyển từ “cùng tồn tại” sang “liên kết và cùng phát triển”. Chính năng lực hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực bên ngoài thành sức mạnh bên trong là thước đo bền vững của một nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập sâu rộng.
Thứ tư, tăng cường quản trị dòng vốn FDI, gắn hiệu quả kinh tế với an ninh, môi trường và phát triển bền vững. Nghị quyết số 10-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu quản lý và phát huy hiệu quả đầu tư FDI, chuyển dần từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết thông qua tăng cường quản trị, giám sát dòng vốn, ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và các rủi ro hệ thống. Nghị quyết khẳng định yêu cầu không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để lấy tăng trưởng đơn thuần; đồng thời khuyến khích phát triển các dự án FDI xanh, tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên bền vững và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Nhìn tổng thể, các quan điểm trên không đơn thuần là sự điều chỉnh về chính sách thu hút đầu tư, mà phản ánh tư duy phát triển mới: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ nhằm bổ sung vốn cho nền kinh tế mà hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực nội sinh, khả năng tự chủ và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045 được đề ra trong Nghị quyết số 10-NQ/TW đã cụ thể hóa cách tiếp cận này. Đây chính là những bước chuyển căn bản của Nghị quyết số 10-NQ/TW trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ngành Ngân hàng và yêu cầu kiến tạo hệ sinh thái đầu tư quốc gia
Trên cơ sở các quan điểm, mục tiêu và 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 10-NQ/TW, có thể thấy hệ thống ngân hàng thương mại không chỉ được đặt ở vị trí cung ứng tín dụng cho khu vực FDI, mà còn là một cấu phần quan trọng của hệ sinh thái đầu tư quốc gia, tham gia từ khâu thu hút, lựa chọn, tài trợ, thanh toán, quản trị dòng tiền đến kết nối doanh nghiệp trong nước và kiểm soát rủi ro.
Điểm mới rất quan trọng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, đồng thời quản trị cả vòng đời dự án. Nghị quyết yêu cầu ưu tiên dự án có công nghệ lõi, hoạt động R&D, trung tâm dữ liệu, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ và khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng. Đồng thời, Nghị quyết không khuyến khích thu hút FDI bằng mọi giá mà xác định ưu tiên các lĩnh vực như bán dẫn, điện tử, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh, logistics hiện đại, tài chính và các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Nghị quyết yêu cầu phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng hiện đại, minh bạch, an toàn; giảm phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn; thúc đẩy trung tâm tài chính quốc tế; nâng hạng thị trường chứng khoán; phát triển nhà đầu tư tổ chức và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài; đặt mục tiêu thu hút ngày càng nhiều tập đoàn đa quốc gia, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm và dịch vụ dùng chung đặt tại Việt Nam. Ngoài ra, Nghị quyết yêu cầu xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính và khả năng tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.
Trên cơ sở đó, có thể xác định nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt nhóm ngân hàng thương mại nhà nước thể hiện qua các khía cạnh: (1) Cung cấp giải pháp tài chính toàn diện trong toàn bộ vòng đời đầu tư; từng bước năng cao năng lực cung cấp giải pháp tài chính tích hợp theo từng ngành, từng chuỗi và từng nhóm nhà đầu tư chiến lược. (2) Dẫn dắt thị trường về phát triển bền vững thông qua tiên phong tài trợ các ngành chiến lược, tín dụng xanh, chuỗi cung ứng, ngân hàng số, thanh toán xuyên biên giới và các dự án có sức lan tỏa cao. (3) Kết nối dòng vốn quốc tế với doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng cao nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, hình thành doanh nghiệp trong nước đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; góp phần bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.
VietinBank đồng hành cùng dòng vốn chất lượng cao, kiến tạo sự phát triển bền vững
Là một trong những ngân hàng thương mại chủ lực của nền kinh tế, trong nhiều năm qua, VietinBank đã chủ động đón đầu làn sóng đầu tư nước ngoài, từng bước xây dựng và phát triển hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ toàn diện dành cho khách hàng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Với danh mục khách hàng quy tụ các tập đoàn, doanh nghiệp đa quốc gia đến từ châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore và nhiều thị trường trọng điểm khác, VietinBank khẳng định vị thế là một trong những ngân hàng nội địa hàng đầu trong phục vụ doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và khu vực. Năm 2024, VietinBank đã nhận được 2 giải thưởng lớn: “Ngân hàng nội địa tốt nhất cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam” và “Thương vụ tài trợ dự án về cơ sở hạ tầng của năm” tại Giải thưởng Ngân hàng Doanh nghiệp và Đầu tư của Asian Banking & Finance. Năm 2026, VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín với 15 năm liên tiếp trong Top 2.000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Tạp chí Forbes bình chọn), 8 lần liên tiếp trong danh sách TOP 300 Thương hiệu ngân hàng giá trị nhất trên thế giới (theo bảng xếp hạng của Brand Finance), 3 năm liên tiếp trong bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (Tạp chí Fortune bình chọn)… Đây chính là những dấu ấn đậm nét của VietinBank về quy mô, năng lực cạnh tranh và vị thế ngày càng được nâng cao trong khu vực và quốc tế.
Điểm nổi bật của VietinBank là ngoài cung cấp vốn còn hướng tới cung cấp các giải pháp tài chính phù hợp với từng giai đoạn của vòng đời đầu tư. Từ tư vấn, hỗ trợ giao dịch, cung ứng sản phẩm thanh toán, ngoại hối, tài trợ thương mại đến các giải pháp ngân hàng số và quản trị dòng tiền, từng bước khẳng định vai trò là đối tác đồng hành cùng nhà đầu tư trong quá trình hình thành, vận hành và mở rộng dự án tại Việt Nam. VietinBank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam xây dựng đội ngũ chuyên trách phục vụ khách hàng Hoa ngữ, cung cấp nền tảng giao dịch đa ngôn ngữ, thiết kế giải pháp tài chính theo từng giai đoạn của vòng đời dự án. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW, hỗ trợ nhà đầu tư không chỉ ở khâu thu hút ban đầu mà trong toàn bộ quá trình triển khai và phát triển.
Năm 2026, các hoạt động kết nối, xúc tiến đầu tư tại nước ngoài tiếp tục được đẩy mạnh. VietinBank đã chủ động triển khai từ sớm danh mục tài trợ phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp, bất động sản công nghiệp và hậu cần, tạo mặt bằng vật chất cho dòng vốn chất lượng cao dịch chuyển vào Việt Nam. Trong hoạt động kết nối quốc tế, VietinBank phối hợp cùng các đối tác triển khai dịch vụ thanh toán QR xuyên biên giới với Lào, Thái Lan và Singapore, từng bước mở rộng bản đồ thanh toán số khu vực.
Song hành với hoạt động tín dụng, VietinBank tập trung phát triển hệ sinh thái tài chính số toàn diện, nền tảng ngân hàng số dành cho khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân, nền tảng quản trị thanh toán dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán, dịch vụ kết nối hệ thống quản trị doanh nghiệp và cổng giao diện lập trình mở. Hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được kết nối trên nền tảng này, qua đó chuẩn hóa quản trị dòng tiền, minh bạch dữ liệu tài chính và nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của các tập đoàn đa quốc gia.
Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW, với nền tảng đã được xây dựng qua nhiều năm, cùng tinh thần đoàn kết, đổi mới và khát vọng phát triển, Đảng ủy VietinBank tiếp tục lãnh đạo toàn hệ thống phát huy vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực nội sinh và đồng hành cùng dòng vốn đầu tư chất lượng cao, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào từng quyết sách, từng sản phẩm, từng quy trình và từng hành động cụ thể; qua đó xây dựng VietinBank phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững, đóng góp tích cực vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.
Quán triệt tinh thần đó, Đảng bộ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) xác định việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần được cụ thể hóa bằng chương trình hành động cụ thể, thiết thực; qua đó phát huy vai trò của ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực trong dẫn vốn, kết nối nguồn lực, đồng hành cùng doanh nghiệp và nhà đầu tư, đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Bước chuyển trong tư duy của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Nếu trước đây trọng tâm thường được đặt vào khả năng thu hút vốn, thì trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định vấn đề cốt lõi là lựa chọn, tổ chức, quản trị và chuyển hóa dòng vốn FDI thành năng lực phát triển của nền kinh tế. Bước chuyển này thể hiện tập trung ở bốn điểm nổi bật:
Thứ nhất, chuyển từ coi trọng số lượng sang lựa chọn FDI theo chất lượng, hiệu quả và giá trị mang lại cho nền kinh tế. Nghị quyết xác định chất lượng, hiệu quả, trình độ công nghệ, khả năng chuyển giao công nghệ, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng tạo ra trong nước là những tiêu chí quan trọng để lựa chọn và đánh giá đầu tư nước ngoài. Theo đó, dòng vốn được ưu tiên phải phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra những năng lực sản xuất, công nghệ mới.
Thứ hai, chuyển từ thu hút từng dự án riêng lẻ sang phát triển cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đầu tư. Một điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 10-NQ/TW là chuyển từ cách tiếp cận thu hút đầu tư chủ yếu theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận mới đặt dự án FDI trong tổng thể một chuỗi từ hạ tầng, logistics, năng lượng, tài chính, công nghiệp hỗ trợ, nhà cung ứng đến nghiên cứu - phát triển, đổi mới sáng tạo và thị trường đầu ra. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ thu hút những “điểm” đầu tư riêng lẻ sang hình thành những mạng lưới sản xuất và hệ sinh thái giá trị có sức cạnh tranh quốc tế.
Thứ ba, chuyển từ sử dụng FDI như nguồn lực bổ sung sang coi FDI là động lực để phát triển doanh nghiệp Việt Nam và tăng cường nội lực quốc gia. Nghị quyết yêu cầu gắn phát triển khu vực FDI với nhiệm vụ xây dựng và phát triển các nhà cung ứng trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính và khả năng tham gia chuỗi giá trị của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mối quan hệ giữa FDI và khu vực kinh tế trong nước, theo đó, phải chuyển từ “cùng tồn tại” sang “liên kết và cùng phát triển”. Chính năng lực hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực bên ngoài thành sức mạnh bên trong là thước đo bền vững của một nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập sâu rộng.
Thứ tư, tăng cường quản trị dòng vốn FDI, gắn hiệu quả kinh tế với an ninh, môi trường và phát triển bền vững. Nghị quyết số 10-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu quản lý và phát huy hiệu quả đầu tư FDI, chuyển dần từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết thông qua tăng cường quản trị, giám sát dòng vốn, ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và các rủi ro hệ thống. Nghị quyết khẳng định yêu cầu không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để lấy tăng trưởng đơn thuần; đồng thời khuyến khích phát triển các dự án FDI xanh, tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên bền vững và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Nhìn tổng thể, các quan điểm trên không đơn thuần là sự điều chỉnh về chính sách thu hút đầu tư, mà phản ánh tư duy phát triển mới: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ nhằm bổ sung vốn cho nền kinh tế mà hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực nội sinh, khả năng tự chủ và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045 được đề ra trong Nghị quyết số 10-NQ/TW đã cụ thể hóa cách tiếp cận này. Đây chính là những bước chuyển căn bản của Nghị quyết số 10-NQ/TW trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ngành Ngân hàng và yêu cầu kiến tạo hệ sinh thái đầu tư quốc gia
Trên cơ sở các quan điểm, mục tiêu và 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 10-NQ/TW, có thể thấy hệ thống ngân hàng thương mại không chỉ được đặt ở vị trí cung ứng tín dụng cho khu vực FDI, mà còn là một cấu phần quan trọng của hệ sinh thái đầu tư quốc gia, tham gia từ khâu thu hút, lựa chọn, tài trợ, thanh toán, quản trị dòng tiền đến kết nối doanh nghiệp trong nước và kiểm soát rủi ro.
Điểm mới rất quan trọng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, đồng thời quản trị cả vòng đời dự án. Nghị quyết yêu cầu ưu tiên dự án có công nghệ lõi, hoạt động R&D, trung tâm dữ liệu, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ và khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng. Đồng thời, Nghị quyết không khuyến khích thu hút FDI bằng mọi giá mà xác định ưu tiên các lĩnh vực như bán dẫn, điện tử, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh, logistics hiện đại, tài chính và các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Nghị quyết yêu cầu phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng hiện đại, minh bạch, an toàn; giảm phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn; thúc đẩy trung tâm tài chính quốc tế; nâng hạng thị trường chứng khoán; phát triển nhà đầu tư tổ chức và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài; đặt mục tiêu thu hút ngày càng nhiều tập đoàn đa quốc gia, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm và dịch vụ dùng chung đặt tại Việt Nam. Ngoài ra, Nghị quyết yêu cầu xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính và khả năng tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.
Trên cơ sở đó, có thể xác định nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt nhóm ngân hàng thương mại nhà nước thể hiện qua các khía cạnh: (1) Cung cấp giải pháp tài chính toàn diện trong toàn bộ vòng đời đầu tư; từng bước năng cao năng lực cung cấp giải pháp tài chính tích hợp theo từng ngành, từng chuỗi và từng nhóm nhà đầu tư chiến lược. (2) Dẫn dắt thị trường về phát triển bền vững thông qua tiên phong tài trợ các ngành chiến lược, tín dụng xanh, chuỗi cung ứng, ngân hàng số, thanh toán xuyên biên giới và các dự án có sức lan tỏa cao. (3) Kết nối dòng vốn quốc tế với doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng cao nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, hình thành doanh nghiệp trong nước đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; góp phần bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.
VietinBank đồng hành cùng dòng vốn chất lượng cao, kiến tạo sự phát triển bền vững
Là một trong những ngân hàng thương mại chủ lực của nền kinh tế, trong nhiều năm qua, VietinBank đã chủ động đón đầu làn sóng đầu tư nước ngoài, từng bước xây dựng và phát triển hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ toàn diện dành cho khách hàng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Với danh mục khách hàng quy tụ các tập đoàn, doanh nghiệp đa quốc gia đến từ châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore và nhiều thị trường trọng điểm khác, VietinBank khẳng định vị thế là một trong những ngân hàng nội địa hàng đầu trong phục vụ doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và khu vực. Năm 2024, VietinBank đã nhận được 2 giải thưởng lớn: “Ngân hàng nội địa tốt nhất cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam” và “Thương vụ tài trợ dự án về cơ sở hạ tầng của năm” tại Giải thưởng Ngân hàng Doanh nghiệp và Đầu tư của Asian Banking & Finance. Năm 2026, VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín với 15 năm liên tiếp trong Top 2.000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Tạp chí Forbes bình chọn), 8 lần liên tiếp trong danh sách TOP 300 Thương hiệu ngân hàng giá trị nhất trên thế giới (theo bảng xếp hạng của Brand Finance), 3 năm liên tiếp trong bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (Tạp chí Fortune bình chọn)… Đây chính là những dấu ấn đậm nét của VietinBank về quy mô, năng lực cạnh tranh và vị thế ngày càng được nâng cao trong khu vực và quốc tế.
Điểm nổi bật của VietinBank là ngoài cung cấp vốn còn hướng tới cung cấp các giải pháp tài chính phù hợp với từng giai đoạn của vòng đời đầu tư. Từ tư vấn, hỗ trợ giao dịch, cung ứng sản phẩm thanh toán, ngoại hối, tài trợ thương mại đến các giải pháp ngân hàng số và quản trị dòng tiền, từng bước khẳng định vai trò là đối tác đồng hành cùng nhà đầu tư trong quá trình hình thành, vận hành và mở rộng dự án tại Việt Nam. VietinBank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam xây dựng đội ngũ chuyên trách phục vụ khách hàng Hoa ngữ, cung cấp nền tảng giao dịch đa ngôn ngữ, thiết kế giải pháp tài chính theo từng giai đoạn của vòng đời dự án. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW, hỗ trợ nhà đầu tư không chỉ ở khâu thu hút ban đầu mà trong toàn bộ quá trình triển khai và phát triển.
Năm 2026, các hoạt động kết nối, xúc tiến đầu tư tại nước ngoài tiếp tục được đẩy mạnh. VietinBank đã chủ động triển khai từ sớm danh mục tài trợ phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp, bất động sản công nghiệp và hậu cần, tạo mặt bằng vật chất cho dòng vốn chất lượng cao dịch chuyển vào Việt Nam. Trong hoạt động kết nối quốc tế, VietinBank phối hợp cùng các đối tác triển khai dịch vụ thanh toán QR xuyên biên giới với Lào, Thái Lan và Singapore, từng bước mở rộng bản đồ thanh toán số khu vực.
Song hành với hoạt động tín dụng, VietinBank tập trung phát triển hệ sinh thái tài chính số toàn diện, nền tảng ngân hàng số dành cho khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân, nền tảng quản trị thanh toán dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán, dịch vụ kết nối hệ thống quản trị doanh nghiệp và cổng giao diện lập trình mở. Hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được kết nối trên nền tảng này, qua đó chuẩn hóa quản trị dòng tiền, minh bạch dữ liệu tài chính và nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của các tập đoàn đa quốc gia.
Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW, với nền tảng đã được xây dựng qua nhiều năm, cùng tinh thần đoàn kết, đổi mới và khát vọng phát triển, Đảng ủy VietinBank tiếp tục lãnh đạo toàn hệ thống phát huy vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực nội sinh và đồng hành cùng dòng vốn đầu tư chất lượng cao, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào từng quyết sách, từng sản phẩm, từng quy trình và từng hành động cụ thể; qua đó xây dựng VietinBank phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững, đóng góp tích cực vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.